Khi giá nhà vượt xa ngưỡng chi trả, hiện tượng kiệt sức và từ bỏ nỗ lực ngay giữa thời kỳ dân số vàng đang trở nên phổ biến hơn

Sau năm 1990, kinh tế Nhật Bản rơi vào suy thoái kéo dài khi bong bóng tài sản tan vỡ. Những người trẻ lớn lên trong giai đoạn này phải đối mặt với việc làm bấp bênh và thu nhập giảm sút, khiến giấc mơ an cư hay lập gia đình trở nên xa vời. Họ hình thành nên "thế hệ mất mát": không mua nhà, không tích lũy, không kết hôn, không sinh con. Không ít người trong số họ sau đó đã tự nhận mình là “thế hệ thua cuộc”, và xã hội Nhật Bản bắt đầu chứng kiến hiện tượng này ngày càng phổ biến. Hikikomori là cách để giới truyền thông Nhật gọi những người trẻ tự giam mình trong phòng kín, gần như đoạn tuyệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Khoảng 30 năm sau, câu chuyện tương tự lặp lại tại Trung Quốc. Khi giá nhà ở các thành phố lớn vượt quá xa thu nhập và áp lực làm việc theo văn hóa “996” trở nên kiệt cùng, người trẻ nhận ra cố gắng đến đâu cũng khó thay đổi vị thế xã hội. Từ đó, trào lưu tang ping (“nằm thẳng”) ra đời: họ chủ động hạ thấp nhu cầu, từ chối cạnh tranh và chỉ làm việc vừa đủ để duy trì cuộc sống cơ bản thay vì kiệt sức chạy theo kỳ vọng xã hội.
Và hiện nay, tâm lý muốn "rút lui" như vậy cũng đang bắt đầu manh nha tại Việt Nam.
Không khó để bắt gặp câu chuyện của những người như NH. (25 tuổi, chuyên viên marketing tại Hà Nội), người sở hữu mức lương 14 triệu đồng mỗi tháng nhưng đã dừng việc tìm kiếm căn hộ từ một năm trước. "Nếu mỗi tháng để dành được 5 triệu, một năm có 60 triệu, thì mất nửa thế kỷ tôi mới có 3 tỷ đồng, trong khi căn chung cư cũ bên Hà Đông bây giờ đã được môi giới báo tới 4 tỷ rồi," H. chia sẻ. Thay vì tăng ca kiếm thêm hay cắt giảm chi tiêu tối đa, H. chọn từ chối các dự án ngoài giờ, chuyển sang chế độ làm việc vừa đủ và dành trọn ngày cuối tuần để nghỉ ngơi. Câu chuyện của H. không còn là cá biệt, mà đang phản ánh một trạng thái tâm lý chung của không ít người trẻ nơi đô thị: sự hoang mang trước một cuộc đua mà vạch đích dường như liên tục bị dời đi xa hơn.
Giai đoạn thập niên 1990 đến những năm 2000, công thức thành công trong xã hội thường rất rõ ràng: chỉ cần chăm chỉ làm lụng, thắt lưng buộc bụng thì "tích tiểu sẽ thành đại". Ngày đó, khoảng cách giữa mức lương trung bình và giá một mảnh đất hay căn nhà chưa bị kéo giãn quá mức, nên sự kiên trì tiết kiệm luôn nhìn thấy một đích đến cụ thể có thể chạm tới được.
Thế nhưng, thế hệ trẻ hiện nay lại đang đối diện với một phép tính hoàn toàn khác. Theo tiêu chuẩn thông thường của Ngân hàng Thế giới (World Bank), để việc mua nhà nằm trong khả năng chi trả của người dân, giá một căn nhà chỉ nên gấp khoảng 4 đến 6 năm thu nhập trung bình của hộ gia đình. Tại Hà Nội và TP.HCM hiện nay, con số này đã vọt lên tới hơn 30 năm thu nhập.
Điều đó có nghĩa là, một người lao động với mức thu nhập 10 triệu đồng phải mất tới 10 tháng lương chỉ để mua 1m² căn hộ ở vùng ven. Muốn sở hữu một không gian sống khiêm tốn khoảng 50m², họ sẽ phải đánh đổi bằng hơn 40 năm thu nhập ròng, với điều kiện phi thực tế là: không ăn, không uống, không đi lại và không phát sinh bất kỳ khoản ốm đau nào.
Khi những mục tiêu lớn trở nên bất khả thi về mặt số học, việc kiên trì để dành vài triệu mỗi tháng bỗng trở nên vô nghĩa. Trong kinh tế học hành vi, trạng thái này giải thích cho sự xuất hiện của "chủ nghĩa hư vô tài chính" (Financial nihilism). Đó là cảm giác hụt hẫng khi niềm tin vào các giải pháp tích lũy truyền thống bị sụp đổ. Khi nhận ra dù có thắt lưng buộc bụng đến đâu cũng không thể chạm tới tài sản cốt lõi, người trẻ mất đi động lực để gồng gánh chạy đua, và phản ứng tự vệ sẽ xuất hiện: buông bỏ mục tiêu dài hạn.
Khi cánh cửa sở hữu một tài sản lớn tạm thời khép lại, nguồn tiền tích lũy của người trẻ bắt đầu vận động theo hai hướng thực tế hơn:
Thứ nhất, dòng tiền tìm đến các trải nghiệm tạo ra giá trị cảm xúc tức thì. Việc sở hữu một căn nhà sau vài thập kỷ quá đỗi xa vời, nên người trẻ chọn chi 80.000 đến 100.000 đồng cho một ly nước chất lượng hay một buổi ngồi quán quen. Về mặt tâm lý học hành vi, đây không đơn thuần là tiêu xài bốc đồng, mà là một khoản chi phí vừa vặn để mua lấy sự thư giãn và tìm lại cảm giác tự chủ đối với cuộc sống của chính mình sau những giờ làm việc áp lực. Khi không thể kiểm soát tương lai xa, con người có xu hướng giành lại quyền kiểm soát những niềm vui trong hiện tại.
Thứ hai, số vốn tích lũy nhỏ giọt chảy vào các kênh đầu cơ có rào cản thấp. Khi kênh tích lũy truyền thống (gửi tiết kiệm mua nhà) bị vô hiệu hóa, thị trường chứng khoán, tiền số hay vàng miếng nhỏ lẻ trở thành lựa chọn thay thế. Người trẻ bước vào các kênh này với hy vọng tìm kiếm cơ hội gia tăng giá trị tài sản trong khả năng cho phép của túi tiền - một kiểu đánh cược tài chính với mong muốn thu hẹp khoảng cách tài sản đang ngày một giãn rộng.
Điều đáng nói là cả Nhật Bản lẫn Trung Quốc chỉ đối mặt với làn sóng buông bỏ khi nền kinh tế của họ đã chạm ngưỡng phát triển rất cao. Khi bong bóng tài sản tan vỡ vào năm 1990, thu nhập bình quân của người Nhật đã vượt 25.000 USD mỗi năm. Còn tại Trung Quốc, khi phong trào "nằm thẳng" bùng nổ vào năm 2021, thu nhập bình quân đầu người cũng đạt mốc 12.500 USD sau nhiều thập kỷ tăng trưởng công nghiệp thần tốc. Nói cách khác, xã hội của họ "giàu trước khi mỏi".
Việt Nam lại đang ở một vị thế hoàn toàn trái ngược. Chúng ta vẫn nằm trong thời kỳ dân số vàng, mức thu nhập bình quân đầu người mới chỉ ở ngưỡng khoảng 5.000 USD. Đây vốn là giai đoạn lực lượng lao động sung mãn nhất về năng lượng cống hiến lẫn khát vọng tích lũy tài sản -động lực quan trọng nhất để đưa đất nước thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình.
Thế nhưng, tâm lý rút lui và ngại cố gắng lại xuất hiện sớm hơn chu kỳ tự nhiên của xã hội. Khi giá tài sản tăng nhanh gấp nhiều lần tốc độ tăng của năng suất lao động và thu nhập thực tế, nó vô tình triệt tiêu khát vọng cống hiến của chính lực lượng lao động trẻ tuổi.
Khi một thế hệ bắt đầu chọn cách rút lui vì không còn nhìn thấy đích đến từ sự nỗ lực, liệu đây chỉ là câu chuyện thích ứng tâm lý mang tính cá nhân, hay là hồi chuông cảnh báo sớm về nguy cơ một nền kinh tế bị hụt hơi trước khi kịp vươn tới ngưỡng phát triển?
Câu trả lời có lẽ không chỉ nằm ở việc người trẻ chọn đứng lên hay nằm xuống, mà nằm ở chỗ xã hội sẽ tạo ra cơ chế nào để sự nỗ lực của họ một lần nữa tìm lại được giá trị xứng đáng.